BANNER

n2

Hiển thị các bài đăng có nhãn digital marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn digital marketing. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 8, 2013

Xu hướng Mobile Marketing tại Việt Nam

Bạn có biết hơn 92% người dùng mobile internet tại Việt Nam là khách hàng của Viettel và iOS của Apple chỉ chiếm 0.46% khách hàng bạn có thể dùng mobile internet  để tiếp cận.

Theo thống kê vào tháng 2/2011 của Comscore thì người dùng di động sẽ sớm bắt kịp và vượt qua số lượng người dùng PC.
Dân số  toàn cầu vào khoảng 6.9 tỉ người thì có đến 5.2 tỉ điện thoại di động, vượt xa con số 1.6 tỉ TV và 1.2 tỉ PC.
Ước tính lượng người dùng internet mobile từ 14 triệu người vào cuối năm 2010 lên đến 788 triệu người vào 2015 (tăng 56 lần). Cuối quý 3/2011, Việt Nam xếp hạng thứ 4 toàn cầu về doanh thu quảng cáo trên Internet di động của mạng lưới BuzzCity.
Tại hội thảo về quảng cáo trực tuyến vào tháng 8 vừa qua, tiến sĩ K.F. Lai, Giám đốc Điều hành công ty Truyền thông Di động BuzzCity, nhấn mạnh rằng ngành quảng cáo và tiếp thị trực tuyến sẽ chiếm 30% thị phần trong ba năm tới. Cho đến tháng 10/2011, lưu lượng truy cập Internet bằng điện thoại ở Việt Nam tăng 400% so với năm trước, và mức tăng có thể vẫn được duy trì khi ngày càng có nhiều dịch vụ giải trí và các nội dung liên quan được phát triển trên Internet di động.
Với mức tăng trưởng đầy lạc quan như thế,  Mobile Marketing như một xu hướng không thể cưỡng lại trong một kế hoạch digital marketing!
Ngoài một số hoạt động như SMS, Bluetooth truyền thống, tiếp cận người dùng di động tại Việt Nam  khi họ sử dụng internet là một cách tương đối phổ biến và hiệu quả.
Để tiếp cận đúng đối tượng mục tiêu, cũng như để hiểu rõ hơn về người dùng internet mobile tại Việt Nam, thông qua một thống kê từ các họat động mobile marketing tiếp cận 18.94 triệu  người dùng internet mobile tại Việt Nam, tôi cung cấp một vài số liệu giúp ích bạn.

Đến đây, tôi tin rằng bạn đã hiểu vì sao các chương trình cài đặt GPRS, tải nhạc chuông nhạc chờ vẫn phát với một tần suất dày đặc trên truyền hình và radio.
Cho dù các bạn đồng nghiệp đều dùng smartphone thì đó vẫn chỉ là một số ít người dùng sành điệu trên toàn cầu.
Nếu bạn cũng như tôi, khi số người dùng feature phone quanh bạn chỉ là thiểu số, bạn nên làm gì với một xu hướng không thể cưỡng lại?
Bạn hãy cân nhắc khi đưa mobile vào kế hoạch digital marketing của mình!  
Nếu bạn có kế hoạch mua một smartphone cho bằng chị bằng em, bạn đang rời bỏ 82% người dùng non-smartphone toàn cầu để gia nhập vào một gia đình nhỏ bé và sành điệu!








Nguồn: blog.chamxanh.com

Đo lường hiệu quả – Thế mạnh từ kênh truyền thông mới

Nổi lên gần đây như một kênh thông tin mới đầy tiềm năng, Internet đang thách thức các kênh truyền thống bằng chính những đặc thù riêng như tính gắn kết và khả năng tương tác với người dùng.
Thế nhưng, để truyền thông trực tuyến trở thành đối thủ xứng tầm của các bậc đàn anh, ngoài nỗ lực phát triển các hình thức quảng cáo phát huy hiệu quả thế mạnh đặc trưng của Internet, bước đi đầu tiên cần làm là đo lường hiệu quả truyền thông, trong đó, thông tin  về hành vi người dùng đóng vai trò rất quan trọng.

Đo lường hiệu quả – động lực phát triển online media

Doanh nghiệp sử dụng dịch vụ online media trên thị trường có thể phân ra thành nhiều loại. Đầu tiên là nhóm tiên phong, thường là media planner đang làm việc tại các công ty quảng cáo lớn. Khách hàng của họ vốn không thiếu ngân sách, nhưng khát ý tưởng và đòi hỏi tính hiệu quả cao. Họ cần nhiều hơn các thông tin chung chung như tổng lượt truy cập hay thứ hạng Alexa, vốn không đủ giúp họ bảo vệ quan điểm ủng hộ online trước khách hàng. Thế nên, họ đành dừng lại ở tỉ lệ ngân sách vừa phải, dễ chấp nhận dành cho online media và đặt nó dưới nhãn thử nghiệm. Kế đến là nhóm thận trọng chờ học hỏi từ kinh nghiệm thành công trên thị trường. Cuối cùng là nhóm tùy hứng, hầu hết chưa ý thức trọn vẹn về khái niệm hiệu quả. Họ thường thiếu chiến lược truyền thông rõ ràng nên chưa phải là động lực đáng kể để phát triển online media.
Mặt khác, đo lường trang web còn giúp chủ phương tiện truyền thông hiểu rõ hơn về trang web của mình, từ đó có kế hoạch nâng cấp hoặc cải tiến đáp ứng tốt hơn nhu cầu người dùng hoặc người mua quảng cáo. Bên cạnh đó, khi cần truyền thông quảng bá  đến nhóm người dùng, số liệu này giúp họ đưa ra quyết định sâu sát với đặc tính và nhu cầu của đối tượng. Trên thực tế, thu thập số liệu và đo lường hiệu quả không chỉ góp phần vào thành công của chiến dịch truyền thông, mà còn hỗ trợ đáng kể cho nỗ lực thấu hiểu người dùng, từ đó đáp ứng các mong muốn và nhu cầu tiềm ẩn của họ.

Nền tảng đo lường quảng cáo trực tuyến

Hầu hết trang web hiện nay theo trào lưu sử dụng số lượt truy cập hay thứ hạng tại Alexa làm thước đo hiệu quả quảng cáo. Tuy nhiên, cách tiếp cận này không “giải mã” được các bí mật về đối tượng người dùng và ngữ cảnh tiếp nhận thông điệp truyền thông, dù chỉ là những thông tin đơn giản  như vị trí địa lý, thời điểm, trình duyệt, độ phân giải màn hình, hệ điều hành… Ngoài ra, chưa tính đến hành vi người dùng khi truy cập trang web mới là quan trọng nhất.
Trên thực tế, online media có thể ghi nhận gần như đầy đủ và chính xác quá trình người dùng tương tác trang web, từ đó cho biết đặc tính và số lượng cụ thể của từng hành động hoặc đối tượng web tham gia quá trình tương tác với người dùng. Nói đơn giản, người dùng truy cập vào một trang bất kỳ trên trang web (bằng cách truy vấn địa chỉ URL) đồng nghĩa với tạo ra một lượt xem, còn gọi là lượt truy cập (pageview/hit). Mỗi lượt truy cập đều được ghi nhận kèm theo ngày giờ cụ thể. Với mỗi lần ghé thăm trang web, người dùng có thể truy cập nhiều trang khác nhau, nghĩa là tạo ra nhiều lượt xem. Mỗi lần như vậy được gọi là phiên truy cập (visit/session), gồm nhiều lượt xem, mỗi lượt xem ứng với một trang. Xét trong khoảng thời gian xác định, có thể đếm được lượng người truy cập, họ ghé thăm trang web bao nhiêu lần, tổng cộng đã xem bao nhiêu trang.
Với mỗi phiên truy cập, trang đầu tiên người dùng vào xem gọi là trang khởi đầu (Entry page), trang cuối cùng gọi là trang kết thúc (Exit page). Ngoài ra, các trang từ đó có đường link chuyển đến trang kế tiếp gọi là trang chuyển hướng (Referrer). Nếu bạn có một đường link hay banner đặt trên trang web, hành động nhấn vào đó gọi là Click-through. Tỉ lệ giữa số lần đường link được nhấn vào chia cho số lần đường link được xem gọi là Click-through Rate (CTR). Mặt khác, đối với từng trang, chúng ta biết được bao nhiêu trường hợp trang đó chỉ được xem một lần duy nhất trong suốt phiên truy cập. Nghĩa là, sau khi xem trang đầu tiên, người dùng không xem tiếp trang nào nữa (hành động này gọi là Bounce).
Trong trường hợp này, có thể người dùng chỉ vô tình ghé qua hoặc bị ép buộc vào trang web mà chưa có chủ ý truy cập. Từ đó, ta tính được tỉ lệ Bounce Rate của toàn bộ trang web, dựa vào đó tính được số lượt truy cập thực tế từ những người dùng thường xuyên. Bên cạnh đó, mỗi hành động của người dùng trên trang web, ví dụ tìm thông tin hay tải tài liệu, được gọi là sự kiện (Event). Ta có thể định sẵn kịch bản gồm nhiều sự kiện nối tiếp nhau để xem xét tỉ lệ chuyển đổi (Conversion Rate) hành vi người dùng qua từng sự kiện. Tuy nhiên, các chỉ số này nếu đứng riêng lẻ không thể giúp ta phân tích thông tin chi tiết về người dùng theo nhiều tiêu chí khác nhau. Thực tế cho thấy, cần khai thác số liệu theo kiểu báo cáo động như vậy mới giải quyết được những yêu cầu cụ thể của công việc. Bằng cách ghi nhận hành động trong suốt phiên truy cập của từng người dùng, so sánh với các kịch bản dựng sẵn, người phân tích số liệu dễ dàng xác định được độ vênh giữa cách người dùng sử dụng trang web so với dự kiến, từ đó đề ra các biện pháp điều chỉnh hợp lý.
Tại các thị trường phát triển, online media thường được khai thác dựa trên nền tảng lượt xem quảng cáo (impression), trong khi ở Việt Nam, hình thức phổ biến nhất là mua quảng cáo theo thời gian đặt banner (display banner).
Hình thức quảng cáo theo impression có ưu điểm tận dụng lợi thế của Internet để tùy biến thông điệp quảng cáo đến người dùng theo từng lượt xem. Khách hàng không cần mua đứt vị trí quảng cáo, thay vào đó, họ chỉ trả tiền theo lượt quảng cáo của họ xuất hiện. Mỗi khi người dùng truy vấn trang web, hệ thống máy chủ quảng cáo (Ad Server) sẽ nhúng vào nội dung trang web gởi đến người dùng banner được lựa chọn ngẫu nhiên theo trọng số từ các banner lưu trữ trong hệ thống. Trọng số này thường được xác định dựa trên tỉ lệ giữa số impression được mua chia cho tổng số impression dự kiến (còn gọi là Inventory) tại vị trí quảng cáo. Ví dụ, vị trí trang chủ chuyên mục Thời Trang của trang web Giải Trí dự kiến mỗi ngày có một triệu impression, thương hiệu Quần Jeans đặt mua 500.000 impression, Quần Tây đặt mua 200.000 impression, và Quần Khaki đặt mua 300.000 impression. Như vậy, tỉ lệ xuất hiện, hay còn gọi là SOV (Share of voice), của ba banner lần lượt là 50%, 20%, và 30%, có nghĩa là trung bình cứ trong 10 lượt xem sẽ có năm lượt xem banner Quần Jeans, tương tự với hai thương hiệu còn lại. Đối với hình thức này, người ta có các cách định giá quảng cáo là CPM (Cost Per Thousand) dựa trên số lượt xem, CPC (Cost Per Click) chỉ tính tiền khi người dùng click vào banner, CPA (Cost Per Acquisition/Lead) chỉ tính tiền nếu giao dịch thành công. Điểm mạnh nhất của hình thức này là khả năng xét thêm các điều kiện lọc cụ thể khi hiển thị banner để tối ưu hiệu quả quảng cáo. Ngoài ra, khách hàng được phép hiển thị nhiều mẫu banner khác nhau tại cùng vị trí quảng cáo, thay vì một mẫu duy nhất từ đầu đến cuối.
Ở Việt Nam hiện nay, chính ưu điểm của CPM lại là trở ngại: với tỉ lệ SOV thấp, nghĩa là inventory lớn hơn rất nhiều so với lượng impression được đặt mua, khách hàng sẽ khó có thể tự kiểm tra sự xuất hiện banner của chính họ. Mặc dù được đơn vị bán quảng cáo cấp quyền truy cập vào hệ thống theo dõi số lần banner được xem, tâm lý chung khách hàng vẫn muốn “tận mục sở thị”. Đối với display banner, băn khoăn này tất nhiên không còn. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của display banner là khung thời gian tối thiểu. Nếu cần quảng cáo trong 10 ngày, bạn có muốn phải trả tiền cho thời gian thuê hai tuần?

Giải pháp thực tế – “Đầu tiên” chưa chắc là “Tiền đâu”!

Trước khi phân tích các tiêu chí đo lường như trên cần có giải pháp cung cấp số liệu đầu vào (để chọn lựa kênh truyền thông) và số liệu đầu ra (để đánh giá hiệu quả quảng cáo). Trong khi chủ trang web chưa sẵn sàng đầu tư vào đo lường trang web, người mua quảng cáo thì không muốn trả thêm tiền cho số liệu đánh giá. Vấn đề “đầu tiên” tưởng là “tiền đâu”, lại chính là thái độ lắng nghe và cầu tiến để cùng khai thác các công cụ sẵn có một cách hiệu quả nhất.
Google Analytics, viết tắt là GA, là dịch vụ miễn phí của Google cho phép ghi nhận và lập báo cáo chi tiết về thông tin truy cập của người dùng trang web, chỉ áp dụng với trang web có lượt truy cập hàng tháng không vượt quá năm triệu. GA đáp ứng tốt hầu hết yêu cầu thống kê tình hình hoạt động trang web. Tuy nhiên, GA vẫn còn hạn chế trong khả năng ghi nhận chi tiết từng hoạt trong trong suốt phiên truy cập.  Từ nhược điểm của GA, Google cung cấp giải pháp thương mại Urchin, tuy nhiên đến nay vẫn chưa xuất hiện tại Việt Nam. Mặt khác, thị trường hiện đang xuất hiện hệ thống IOMetric như giải pháp trọn gói hướng đến nhu cầu thông tin về hành vi người dùng, giúp nhận diện được các đặc điểm về sở thích và tính cách của họ. Ngoài ra, IOMetric còn có thể theo sát hành vi người dùng sau khi nhấn vào banner quảng cáo (post-click behavior). Đối với quảng cáo trực tuyến, thông tin này cực kỳ quan trọng và hữu ích, là cơ sở để tìm hiểu nhu cầu, động cơ và diễn biến tâm lý của đối tượng dưới góc độ truyền thông và marketing tích hợp.
Về phía chủ phương tiện truyền thông, các đơn vị có ý thức đầu tư bài bản và chuyên nghiệp cho dịch vụ online media đều xây dựng hệ thống theo dõi và thống kê hiệu quả quảng cáo. Hệ thống này càng đặc biệt cần thiết khi doanh nghiệp chọn lựa hình thức khai thác quảng cáo theo impression. Thông thường, tính năng này tích hợp sẵn trong hệ thống Ad Server, giúp khách hàng chủ động theo dõi sát sao quá trình giải ngân khoản đầu tư của họ vào online media. Với cách tiếp cận mới, hiệu quả truyền thông được cập nhật chính xác và tức thời qua báo cáo thống kê trên Ad Server, chứ không cần áng chừng bằng mắt thường ngay tại trang đặt quảng cáo. Báo cáo thường gồm có số lần banner xuất hiện, số lần click vào banner, số giao dịch thành công (nếu tính theo CPA), kèm theo tỉ lệ chuyển đổi giữa các yếu tố.
Thời khủng hoảng kinh tế, ngân sách dành cho quảng cáo được cân nhắc và săm soi kỹ lưỡng hơn bao giờ hết. Hiệu quả truyền thông buộc phải tăng tốc để tiệm cận với hiệu quả hoạt động kinh doanh. Đối với online media, đo lường là thế mạnh không thể phủ nhận. Nhưng nếu khai thác online media theo cách quảng cáo truyền thống, bạn chấp nhận thua trên chính sân nhà.
Thị trường online media đang mở ra rất nhiều vận hội mới. Để trở thành chàng David  thời nay, dù với vai trò người bán, người mua, hay người kết nối, hãy bắt đầu học cách biến điểm mạnh của online media thành lợi thế cạnh tranh của bạn.
Nguồn : GOMM.COM.VN

Mô hình 4P và Internet Marketing

Trong marketing truyền thống, chúng ta có khá nhiều mô hình dùng để phân tích cho một chiến lược marketing. Dẫu là người thiên về thực hành hay thiên về lý thuyết, người chú trọng hiệu quả hay người thích mô phạm, dù ít dù nhiều khi bắt đầu một công việc marketing, chúng ta đều phải sử dụng một vài mô hình nào đó. Những mô hình này qua tháng năm đã chứng minh được những hiệu quả nhất định của nó, nó giúp cho marketer dễ dàng hơn và có hệ thống hơn trong các phân tích của mình.
5 năm trước khi bắt đầu vào Sony, chuyển từ làm marketing truyền thống sang internet marketing. Khi đó internet marketing còn khá mới mẻ, đặc biệt là ở Việt Nam – ngay cả trên thế giới khi đó cũng chưa phổ biến cụm từ này, đa số những người làm marketing online đều tự vạch ra những cách làm riêng cho mình. Khi đó tôi thường trăn trở một câu hỏi, làm thế nào để ứng dụng / hoặc nâng cấp những mô hình marketing hiện có sang cho internet marketing.
Và khi nghiên cứu thêm trên internet, tôi phát hiện ra là câu hỏi đó không chỉ của riêng tôi mà rất nhiều người cùng chung suy nghĩ đó. Sau thời gian lăn lộn trong lĩnh vực này, tôi rút ra được một số tổng hợp cho mình. Dự định sẽ viết thành một lọat bài, tổng hợp cho mình và cũng để chia sẻ với mọi người – hy vọng có thời gian tôi sẽ viết đều đặn hơn. Và tôi bắt đầu lọat bài với mô hình cơ bản nhất của Marketing – 4P.
Marketing Mix – một cụm từ đã quá quen thuộc với dân làm marketing. Ở marketing truyền thống chúng ta có 4P và sau này được nâng cấp lên 7P.
Rất nhiều người, thậm chí là những người đang làm marketing đôi khi có suy nghĩ, marketing chỉ gói gọn trong chữ P cuồi: Promotion. Họ chăm chăm làm khuyến mãi, tổ chức event, roadshow, họp báo linh đình. Nhưng tôi viết thứ tự của 4 chữ này không phải ngẫu nhiên mà sắp theo thứ tự quan trọng, và với tôi trong những việc trên thì cái việc mà marketer làm nhiều nhất lại là ít quan trọng nhất. Chúng ta làm nhiều nhất vì nó là bề nổi, và vì nó chiếm rất nhiều thời gian và công sức của chúng ta. Nhưng công việc này không nên hẳn quá nặng nề vì bên cạnh chúng ta còn có các agency giúp triển khai những công việc này.
4P – là ghép từ 4 chữ Product – Price – Place – Promotion.
Với tôi quan trọng nhất vẫn là sản phẩm, muốn thành công trong bất kỳ ngành kinh doanh nào, điều quan trọng là phải có sản phẩm tốt, sản phẩm không tốt thì dẫu cho các yếu tố sau có làm tốt mấy đi nữa thì xác suất thành công sẽ giảm đi rất nhiều.
Kế đến là giá của sản phẩm, điều này quan trọng không kém, chúng ta đã từng chứng kiến nhiều sản phẩm tuy rất tốt, các hoạt động marketing rầm rộ, nhưng chính bước định giá sai đã làm hỏng tất cả. Tôi nhớ vào khoảng giữa năm 2006, khi Ford ra mắt thị trường Việt Nam dòng xe Focus S 5 cửa, người dùng Việt Nam vô cùng háo hức chờ đợi, đây là dòng xe thành công rất lớn ở Châu Âu và Mỹ, thậm chí Ford đã dùng Focus S để tham gia các giải Rally và cũng đã rất thành công. Do đó không có gì phải bàn cãi về kiểu dáng cũng như chất lượng của xe.
Tuy nhiên khi ra mắt, với mức giá hơn $38000, qua thời gian Focus S đã chứng minh rõ ràng đã thất bại ở thị trường Việt Nam với số lượng bán ra lèo tèo. Vì tuy rất tốt, tuy nhiên Focus S vẫn chỉ là dòng xe tầm trung, nhưng với mức giá trên của Ford, quá đắt so với yêu cầu của người tiêu dùng tầm trung, còn với những người chịu trả mức giá cao hơn, khi đã đến 38000, họ sẽ nghĩ đến việc trả thêm một số tiền nữa để sở hữu dòng xe cao hơn. Nếu bàn thêm đến việc phân khúc khách hàng cho dòng sản phẩm này thì ta sẽ thấy Focus S càng sai lầm hơn với mức giá trên. Tôi nghĩ giá như Ford đặt một mức giá hợp lý hơn vào khoảng 30.000, câu chuyện có thể đã khác hẳn.
Place – một câu chuyện khác về kênh phân phối mà tôi nhớ mãi: Bia Laser. Sản phẩm không hẳn là hoàn hảo nhưng chắc chắn không phải là tệ. Giá cả – có thể là một sai lầm khi mà Laser chen chân vào một phân khúc quá nhỏ giữa Tiger và Heineken. Promotion – không thể đánh giá thấp những chiến dịch rầm rộ với cường độ rất cao của THP. Nhưng cuối cùng THP đã thua trong cuộc chạy đua về kênh phân phối với Bia Sài Gòn, Tiger, Heineken. Và tôi cho đây là vấn đề cốt lõi làm nên sự thất bại của Laser.
Đó là mô hình 4P, nó ra đời khá lâu. Qua thời gian có một số người cho rằng 4P không còn phù hợp, chính xác hơn là không đủ, nên họ “phát minh” ra cái 7P mang tính “nhân văn” hơn, thêm vào 3 cái nữa là People, Process, Physical Evidence. Tôi thì vẫn cho rằng 3 cái mới thêm vào thật chất chỉ là khai triển rộng hơn từ 4 cái kia.
Đó là mô hình marketing mix truyền thống. Vậy khi ứng dụng sang Internet Marketing thì những thành phần này sẽ ra sao? Đã có một số ý kiến cho rằng nên ánh xạ từ 4P sang 4C cho Internet Marketing, cụ thể Product tương đương với Customer Solution, Price <-> Customer Cost, Place <-> Convinience, Promotion <-> Communication.
Tuy nhiên với quan điểm của mình, tôi vẫn nghĩ 4P vẫn có thể ứng dụng cho Internet Marketing như tên gọi của nó.

PRODUCT

Đầu tiên, Product. Vấn đề quay trở lại vô cùng đơn giản, concept của sản phẩm thế nào? Đánh vào nhu cầu nào của khách hàng. eBay đã rất thành công khi là sản phẩm đầu tiên phục vụ cho nhu cầu đơn giản của khách hàng, bán đồ cũ với giá cao nhất có thể, và họ đã đưa ra một sản phẩm vô cùng độc đáo thời điểm đó, một mô hình đấu giá, giao lưu mua bán qua mạng mà với eBay, nó giải quyết được những điểm yếu của internet là tính không chắc chắn, người bán người mua không ai biết ai, không ai tin ai hoàn toàn. Youtube ra đời với một nhu cầu đơn giản, chia sẻ hình ảnh mãi chán rồi, thích chia sẻ video cơ! Và họ giải quyết bài toán định dạng file và streaming khá hoàn hảo.
Gút lại vấn đề, sản phẩm vẫn là điểm quan trọng nhất. Vậy làm thế nào để định hình được một sản phẩm online tốt? Tôi cho bám sát những yếu tố sau đây sẽ góp phần vào điều đó:
- Concept: Trước hết vẫn là đi từ một concept độc đáo, những nhu cầu chưa được giải quyết, marketer cần có những nghiên cứu thị trường những phân tích tổng quát và những nắm bắt nhạy bén để phát hiện ra những ý tưởng sơ khai này, sau đó với những nghiên cứu thị trường, những phân tích sâu hơn nhu cầu, về phân khúc khách hàng…
- Chức năng (Functional): Từ những phân tích trên, ta thiết kế lên những chức năng để giải quyết những nhu cầu đã vạch ra – nhu cầu ở đây chính là nhu cầu của khách hàng. Bất cứ khi nào trong một phân tích nào, người marketer cũng phải luôn nhủ rằng chúng ta phải phân tích đứng trên góc độ của khách hàng mục tiêu của mình. Marketer có thể là một người già nua cổ hủ, nhưng khi làm sản phẩm cho teen thì phải đứng trên góc độ của teen mà phân tích – Nhưng tốt nhất đừng để việc này xảy ra, bắt ông già suy nghĩ kiểu teen thì có ngày cả công ty nhảy lầu.
- Tiện dụng (Usablity): Một concept tốt, những chức năng đáp ứng đúng nhu cầu, tất cả phải đi đôi với việc triển khai tốt, ở bước này, những phân tích về Usability, GUI sẽ là vô cùng cần thiết.
- Hiệu năng (Performance): Đây là yêu cầu cuối sau khi đã thỏa mãn những yêu cầu trên. Một dịch vụ tốt, chức năng hoàn hảo, dễ sử dụng. lại load với tốc độ của rùa hoặc ốc sên, thỉnh thỏang rơi tự do hoặc treo vô thời hạn. Đó không phải là một sản phẩm tốt. Đó là cái cách “tống cổ” user ra khỏi website của chúng ta hiệu quả nhất.
Tôi vạch ra 4 điểm trên mà tôi cho là quan trọng khi thiết kế một sản phẩm online theo dạng user-generated content – nôm na là dạng web2.0, sẽ còn có những điểm thêm vào với một dịch vụ e-commerce hoặc các dịch vụ khác.

PRICE

Có thể chúng ta sẽ nói, trên môi trường online thì đừng nói đến Price, giống như câu nói của Google – Don’t be Evil. Thật vậy với đa số những dịch vụ gần như là hoàn hảo và được cung cấp miễn phí. Việc nghĩ đến thu tiền user thật sự là một việc “liều lĩnh” – tất nhiên vẫn có những dịch vụ sống tốt nhờ thu tiền user, nhưng chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Vậy yếu tố Price xem như bỏ đi khi áp dụng internet marketing? Không, tôi nghĩ nên đánh giá vấn đề theo một góc nhìn khác, price là một yếu tố mà tất cả những gì người sử dụng phải “trả giá” cho dịch vụ của chúng ta. Tôi thích nhìn hiện tượng này theo kiểu giá âm, khi chúng ta sản xuất một ấm trà, khách hàng mua ấm trà của chúng ta bán, họ trả cho chúng ta một khoảng tiền, đó là giá dương – lợi ích về tay chúng ta (tất nhiên là khách hàng cũng có lợi của họ – nhưng ở đây chúng ta không bàn khía cạnh đó). Còn với một dịch vụ online, khách hàng có lợi khi họ dùng dịch vụ của chúng ta (còn chúng ta có lợi từ một hướng khác – cũng là một khía cạnh khác không bàn tới). Hiểu theo một hướng khác, đó là một dạng benefit cho khách hàng, dịch vụ càng mang lại lợi ích nhiều cho khách hàng, dịch vụ đó có giá trị dương với họ – mà họ lại không trả một chi phí nào – nghĩa là họ đang trả một chi phí âm cho dịch vụ đó, và chi phí âm này càng cao thì chứng tỏ chúng ta đang đưa ra mức giá tốt.
Tất nhiên không phải vì vậy mà chúng ta nhồi nhét hàng tỉ chức năng vào dịch vụ, xin nhấn mạnh rằng “benefit” này không đo bằng số lượng mà nó đo bằng mức lợi ích mà những gì người dùng có được.

PLACE

Một lần nữa, câu hỏi là môi trường internet không có biên giới, thế thì mạng lưới phân phối là vô nghĩa? Mạng lưới phân phối ở đây có thể hiểu là sự thuận tiện của khách hàng. Twitter có thể dễ dàng sử dụng từ trang web chính của mình, nhưng twitter vẫn cung cấp thêm những widget để dùng cho Daskboard của máy Mac, những addons để dùng cùng với Firefox. Flickr đã vô cùng tiện lợi với trang web, nhưng Flickr vẫn liên tục cập nhật công cụ upload Flickr Uploadr của mình, và gần như tất cả những dịch vụ thành công hiện nay đều xây dựng nhưng API riêng để kết nối với dịch vụ của mình.
Ngày nay với việc phát triển các thiết bị Mobile, các site còn phải xây dựng thêm những công cụ phân phối dịch vụ của mình trên điện thoại di động, Flickr, Facebook, Amazon, eBay… đều đã và đang làm rất tốt những việc này.
Tất cả những điều đó là việc mở rộng khả năng phân phối của mình – Place.

PROMOTION

Cũng như Marketing truyền thống, đây là công việc chiếm nhiều thời gian của chúng ta. Khác với Marketing truyền thống, tôi cho rằng chữ P cuối này đối với marketing online chiếm vai trò quan trọng hơn. Với kinh doanh truyền thống, trong một vài trường hợp chúng ta có thể hoạt động không có chữ P này, có những sản phẩm khi sản xuất ra không hề đưọc quảng cáo mà đưa thằng về tiêu thụ ở các thị trường miền Tây, và đa số những sản phẩm này khi nêu tên thì không ai biết, nhưng họ vẫn sống được.
Tuy nhiên với Internet, nếu làm như vậy đồng nghĩa với việc chúng ta xây một công viên giải trí ngoài đảo và không cung cấp cáp treo, bến tàu, hay sân bay… Khách hàng có thể tự bơi ra chơi nếu muốn.
Các công cụ để quảng bá cho internet thì như chúng ta đã biết rất nhiều: SEO, Social Marketing, Display Ads, Email Marketing, Affiliate Marketing… Vấn đề cốt yếu là việc chúng ta triển khai và ứng dụng những công cụ này như thế nào. Vấn đề này có lẽ đã rất nhiều người bàn luận và sẽ còn bàn luận nhiều.
Còn rất nhiều vấn đề để nói tiếp như việc sản sinh lợi nhuận, việc duy trì cộng đồng, xây dựng nội dung… Nhưng phần vì đã quá khuya mắt mở không lên nữa, phần vì trong khuôn khổ chủ đề này tôi chỉ nói về việc áp dụng 4P và Internet Marketing. Và chúng ta còn rất nhiều mô hình phân tích khác trong marketing mà tôi xin hẹn lại trong một chủ đề khác.
Nguồn : vnBrand

Máy tính bảng với 24H – Bạn đã thử chưa

Xu hướng máy tính bảng
Những năm gần đây, khi Ipad xuất hiện đã mở ra một trào lưu về kỷ nguyên cho máy tính bảng. Số lượng người sử dụng máy tính bảng tăng vọt, theo Công ty Nghiên cứu thị trường IDC Vietnam số lượng máy tính bảng tại Việt Nam quý III-2011 tăng 26% so với quý trước và đạt 30.000 chiếc. Theo đó, iPad của Apple tiếp tục thống lĩnh thị trường máy tính bảng Việt Nam trong quý III. Hiện các nhà cung cấp máy tính bảng dùng Android như Samsung, ASUS, Acer cũng đã tung hàng loạt sản phẩm chất lượng ra thị trường. Đến quý IV, với 78000 chiếc, lượng máy tính bảng đã tăng 26%, có những dấu hiệu cho thấy máy tính bảng sẽ tiếp tục được ưa chuộng hơn trong năm 2012.


Ngày 7/3/2012 vừa qua, sự kiện nổi bật được giới công nghệ chờ đón đã diễn ra, Apple tung ra Ipad 3 với hỗ trợ các mạng dữ liệu LTE có tốc độ nhanh hơn, hiện được các nhà mạng Verizon, AT&T cung cấp ở Mỹ.
Giới thiệu về phiên bản Ipad.24h.com.vn.
Tuy có những ưu điểm vượt trội, dòng máy tính bảng vẫn còn tồn tại những khuyết điểm như : ít hỗ trợ Flash mà hầu hết các websites đều trang bị, kích thước màn hình hạn chế, tốc độ xử lý và RAM hạn chế, …ít nhiều ảnh hưởng không nhỏ tới việc lướt web xem tin tức của người dùng.
Nắm bắt xu hướng tăng trưởng của thị phần máy tính bảng cũng như nhu cầu sử dụng xem tin tức của người dùng, 24H đã cho ra đời một phiên bản website khác dành riêng cho các máy tính bảng với tên miền http://ipad.24h.com.vn. Người dùng có thể truy cập trực tiếp vào địa chỉ trên từ trình duyệt trên máy tính bảng, hoặc dùng máy tính bảng truy cập vào http://24h.com.vn cũng được tự động trỏ sang phiên bản website 24H dành cho iPad là http://ipad.24h.com.vn.
Phiên bản Ipad.24h.com.vn cung cấp cho người dùng máy tính bảng nói chung, Ipad nói riêng những tiện ích giúp họ tận hưởng kênh thông tin, giải trí và các chuyên mục hấp dẫn nhanh nhất và hàng đầu Việt Nam. Đặc biệt, ngay cả khi Apple tuyên bố không hỗ trợ phần mềm trình chiếu Flash, Ipad vẫn có thể xem hình ảnh, quảng cáo, video và các tiện ích 24H cung cấp trên Ipad24H mà không cần cài đặt thêm bất kỳ phần mềm nào, thuận tiện tối đa cho những ai bận rộn.
Ipad.24h.com.vn, khác biệt từ lượng truy cập
Với những đặc tính hỗ trợ cao, Ipad.24h.com.vn đã giúp  người đọc trải nghiệm trọn vẹn khi cập nhật tin tức online. Theo thống kê của Google Analytics, một công cụ do Google cung cấp nhằm phân tích hiệu quả của Website thì lượng pageviews của
Ipad 24h đã đạt mức 8.5 triệu pageviews/tháng; 155 nghìn máy tính bảng truy cập Ipad24h và thời gian đọc tin tức trung bình đến 16 phút/lượt.
Các chỉ số trên đã chứng tỏ : phiên bản Ipad.24h.com.vn  khẳng định mức độ hấp dẫn về nội dung, cũng như sự thuận tiện cho người đọc khi cần cập nhập tin tức mà họ muốn đồng thời khiến người dùng phải đi sâu vào tìm hiểu và thưởng thức website.
Số liệu Google Analytics 03/2012
Tốc độ tăng trưởng của Ipad.24h.com.vn.
Sự tăng trưởng chóng mặt của ngành công nghiệp máy tính bảng, cùng với nhu cầu cập nhật thông tin của người dân Việt Nam đang ngày một tăng cao  đã tạo nên một môi trường thuận lợi cho sự phát triển Ipad 24h. Chỉ trong vòng 6 tháng, lượng pageviews của Ipad 24h đã tăng trung bình gấp 3 lần/tháng so với thời điểm tháng 7/2011.
Khách hàng ngày một khó tính và đòi hỏi ngày một cao, 24h.com.vn cung cấp cho bạn những dịch vụ tốt nhất.
Vũ Phương Linh

3 xu hướng nổi bật của tiếp thị số 2012

Tiếp Thị Số (Digital Marketing) – Một dạng quảng cáo online hiệu quả, chi phí thấp – hiện nay đã trở thành hình thức tiếp thị hiện đại trong các loại dịch vụ quảng cáo.
Tại Việt Nam, Internet đã trở thành một trong những công cụ truyền dẫn thông tin phổ biến và nhanh chóng,với hơn 20 triệu người sử dụng internet và lượng truy cập lớn,chiếm ¼ cả nước và con số ấy vẫn không ngừng tăng lên theo thời gian trong tương lai. Hơn nữa, đa phần người sử dụng internet là thanh niên, học sinh, giới trẻ và giới tri thức, đã biến tiếp thị trên mạng inernet trở thành công cụ hiệu quả thúc đẩy ngành Marketing Online hoạt động tốt hơn cho các doanh nghiệp.
Xu hướng tiếp thị là một vấn đề cần được nghiên cứu tổng thể và bài bản. Xu hướng đó phát triển dựa trên những nhu cầu tiềm năng của đời sống sản xuất và tiêu dùng. Xu hướng tiếp thị luôn là một bài toán cần có lời giải của những nhà tiếp thị nhằm cung cấp cho khách hàng những giải pháp kịp thời, sáng tạo và độc đáo. Những nhà tiếp thị giỏi còn giúp khách hàng của mình đón đầu những nhu cầu và tạo ra những bước chuyển đột biến. Do đó nắm bắt được xu hướng tiếp thị chính là khơi nguồn cho những trào lưu, gây dựng những đế chế mới.
Bài viết này xin gợi ý 03 trào lưu và xu hướng mới để các nhà tiếp thị và quảng cáo tham khảo.
Xu hướng truyền thông 1: Video chiếm ưu thế

Cuối năm 2006 Tổng giám đốc điều hành Cisco John Chambers tuyên bố “nếu có một ứng dụng sát thủ mới thì đó chính là video” Hầu như tất cả những trang web phát triển nhanh và mạnh nhất đều liên quan mật thiết đến việc truyền video
Người ta ước tính video chiếm hơn 60% lưu lượng internet. Như một phương tiện quảng cáo, tất nhiên video là một hình thức mà các nhà tiếp thị có thể dễ dàng liên kết và thúc đẩy một sự chuyển đổi lớn từ quảng cáo trên truyền hình sang quảng cáo trên web. Hiện nay các công ty sử dụng giải pháp quay những đoạn video ngắn và đưa lên website của công ty. Các đoạn video này thường được phát tán lại trên các website chia sẻ phim ảnh cá nhân miễn phí như YouTube, Clip.vn…
Theo ước lượng của các công ty nghiên cứu thị trường, những đoạn phim quảng cáo ngắn, được phát tán trên internet, hiệu quả hơn những hình thức quảng cáo truyền thống. Ví dụ như đoạn phim quay cảnh máy xay thức ăn của hãng Blendtec có thể xay được mọi thứ đã có đến 17 triệu người xem. Và chỉ trong một tháng sau khi chiến dịch quảng cáo bằng phim trực tuyến được tung ra, doanh thu của Blendtec tăng gấp bốn lần.
Không chỉ có các công ty nhỏ làm cách này mà những đại gia như Microsoft, Coca-Cola hay Unilever cũng xem đây là kênh quảng cáo hữu hiệu. Ngoài tác dụng quảng cáo, những đoạn video này còn được dùng cho công việc tuyển dụng hoặc huấn luyện nhân viên. Cụ thể như ở công ty Deloitte, hằng năm có khoảng 35.000 nhân viên tham gia các khoá học trực tuyến trên website của công ty, được giảng dạy bằng những đoạn phim ngắn. Phương thức học tập này hiệu quả hơn nhiều so với hình thức học tập truyền thống bằng sách vở.
Xu hướng truyền thông 2: Đa dạng dịch vụ tìm kiếm
Tìm kiếm thông thường trên các công cụ tìm kiếm tổng quát được gọi là tìm kiếm tổng quát. Việc tìm kiếm được thực hiện trên phạm vi tư liệu rộng. Khi trang web trở nên chi tiết hơn và có những điểm thích hợp cụ thể hơn. Chúng ta có thể hy vọng vào sự phát triển mạnh mẽ của công cụ tìm kiếm chuyên biệt (VSEs), còn được biết đến như là tìm kiếm đặc biệt hoặc lựa chọn. Tìm kiếm chuyên biệt sẽ chỉ tập trung vào những trang web liên quan đến một chủ đề riêng (ví dụ như y học, nông nghiệp, du lịch, thời trang…) hoặc loại nội dung riêng (chẳng hạn như blog hay video). Tìm kiếm video (được nói đến ở trên) thực ra là một loại tìm kiếm chuyên biệt.
Tính hấp dẫn của công cụ tìm kiếm chuyên biệt là loại trừ những kết quả không thích hợp phát sinh do những từ tối nghĩa. Vì vậy, tìm kiếm chuyên biệt với từ “apple” trên công cụ tìm kiếm chuyên về thiết bị điện tử ta sẽ được các kết quả về máy tính hoàn toàn không có trang nào liên quan đến hoa quả!
Trong đó có các nội dung tìm kiếm cần đang được phát triển mạnh mẽ như sau:
Tìm kiếm mua sắm
Một loại dịch vụ tìm kiếm chuyên biệt phát triển nhanh chóng sử dụng “ứng dụng tự động hóa mua sắm” để so sánh khi mua sắm; xem ví dụ ở www.chodientu.vn, www.gophatdat.com, và www.123mua.com… Nhiều trang web tìm kiếm mua sắm cho phép đặt quảng cáo đã thu phí của các hãng bán lẻ lên trên đầu danh sách kết quả tìm kiếm và việc này cũng liên quan đến một số hình thức tính điểm số đáng tin cậy và phản hồi của người sử dụng. Các trang web tìm kiếm mua sắm đặc biệt thu hút các nhà tiếp thị vì những người tìm kiếm trên các trang này là những người chuẩn bị mua hàng, có thể chi trả cao hơn và mang lại tỷ lệ chuyển đổi cao hơn.
Dịch vụ tìm kiếm địa phương:
Đặc biệt là khi được gắn liền với thiết bị di động có lẽ sẽ là một xu hướng mới nhất trong tương lai. Những cơ hội quảng cáo trên dịch vụ tìm kiếm địa phương có vẻ đặc biệt hấp dẫn với những doanh nghiệp nhỏ, những doanh nghiệp (được ước lượng) đã chiếm tới 70% cơ sở AdWords.
Một số khía cạnh của dịch vụ tìm kiếm địa phương được xây dựng ngay trong những công cụ tìm kiếm chủ yếu. Ví dụ như Google sẽ hiểu câu hỏi theo ngữ cảnh của một quốc gia, vì vậy tìm kiếm cho từ “chính phủ” sẽ hiện ra những trang web liên quan đến chính phủ ở quốc gia mà việc tìm kiếm được thực hiện. Đối với một số ngôn ngữ, Google sẽ dịch câu hỏi từ ngôn ngữ thực hiện tìm kiếm sang tiếng Anh và dịch kết quả tìm kiếm trở lại ngôn ngữ nguyên bản của câu hỏi, thậm chí còn dịch những trang người sử dụng chọn.
Tìm kiếm bản đồ
Trên bản đồ trực tuyến phổ biến Google Maps (www.maps.google.com) địa điểm kinh doanh của bạn sẽ xuất hiện trên bản đồ với vị trí đã được đánh dấu. Đây là cách tận dụng lợi thế từ đặc điểm của hình ảnh vệ tinh để quảng cáo.
Google Street View cung cấp cái video toàn cảnh về quảng cáo đường phố thực sự ở những thành phố lớn của Mỹ. Còn tại Việt nam, các website như Thodia.com, diadiem.com, skydoor.net đã và đang hoạt động rất năng động và đem lại nhiều tiện tích cho người sử dụng. Hôm 31-3-2009, Công ty cổ phần Tin học Bản đồ Việt Nam (Vietbando) đã ra mắt công cụ tìm kiếm địa điểm cho người dùng internet và điện thoại di động có kết nối internet như GPRS, CDMA và 3G. Theo đó, người sử dụng internet có thể truy cập website http://vietbando.com và người sử dụng điện thoại di động có kết nối Internet vào trang wap http://m.vietbando.net để tìm kiếm địa điểm với các thông tin dịch vụ, sản phẩm và đường đi đến điểm dịch vụ mà họ cần.
Tìm kiếm trên điện thoại di động
Để sử dụng dịch vụ tìm kiếm địa phương thì điện thoại di động là thích hợp nhất. Điển hình là khi người sử dụng ở bên ngoài và đang di chuyển trong lúc họ rất cần tìm kiếm địa phương. Đối với các nhà tiếp thị thì họ là những người dùng có động cơ với nhu cầu về thông tin ngay lập tức, chưa nói đến số lượng điện thoại di động được sử dụng nhiều hơn máy tính cá nhân nhiều – có lẽ là gấp 3 lần hoặc nhiều hơn – và điện thoại di động đang tăng với tỷ lệ gấp đôi so với máy tính cá nhân, với khoảng 2/3 dân số thế giới sử dụng điện thoại di động. Điện thoại di động và tiềm năng tiếp thị số của chúng sẽ được bàn đến
Ví dụ tại Việt nam, vừa qua Socbay Mobile Search (S.M.S) của công ty Naiscorp đã mang đến điều ngạc nhiên mới cho những teen mê công nghệ: tìm kiếm, nghe và tải nhạc ngay trên điện thoại di động. Dịch vụ tìm kiếm trên điện thoại di động đặc biệt có triển vọng với những doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa phương đang tìm kiếm một phương tiện quảng cáo hiệu quả, chi phí thấp khi nó có thể tiếp cận một cửa hàng ở địa phương cũng như một chuỗi siêu thị và kênh phân phối sản phẩm.
Tìm kiếm ngữ cảnh
Ứng dụng ngữ cảnh dữ liệu đưa vào phổ biến cũng giống như thời kì các nhà khoa học tìm cách trao đổi thông tin qua phương thức website năm 1992. Nhưng nhiều chuyên gia phân tích có nhận xét rằng các đơn vị tìm kiếm như Yahoo, Google đã thấy được tiềm năng vô tận của kĩ thuật này. Hệ thống nhận dạng dữ liệu ngữ cảnh được hình thành từ các thẻ đánh dấu thông tin của người sử dụng dịch vụ blog hay mạng xã hội. Những thẻ ghi (tag) đó cũng giống như các nhãn HTML hỗ trợ định dạng văn bản cùng với dữ liệu trên trang web. Từ đó, các thông tin mô tả được tập hợp lại để hình thành lên chỉ số tìm kiếm. Giúp các hệ thống có khả năng hiểu được loại dữ liệu do người dùng nhập vào để liệt kê ra các đường dẫn chính xác với yêu cầu tìm kiếm.
Kĩ thuật “ngữ cảnh” dữ liệu sẽ trở thành một trong những tiêu chuẩn cốt lõi của trang web tìm kiếm. Công nghệ này được đánh giá là bước phát triển kế tiếp của các website, giúp cho qui trình tìm kiếm thông tin trờ nên dễ dàng hơn bao giờ hết.
Xu hướng truyền thông 3.: xu hướng cá nhân hóa
Yahoo! đã khiến nhiều người chú ý khi một vị Phó chủ tịch tuyên bố “Tìm kiếm không còn là mô hình chiếm ưu thế nữa…Tương lai của web là sự cá nhân hóa”. Trong khi đó tập đoàn Yahoo đã không lãng phí thời gian để khẳng định rằng tìm kiếm vẫn được ưu tiên hàng đầu, tất cả những công cụ tìm kiếm chủ yếu càng ngày càng nói nhiều về sự cá nhân hóa. Tương lai của web sẽ là chọn lọc, đưa những thông tin thích hợp đến người sử dụng hơn là người sử dụng tìm kiếm trên web và chọn lọc kết quả như họ đang làm hiện nay.
Chúng ta đã bắt đầu thấy hiện tượng này với những feed RSS. Người sử dụng chọn những feed mà họ quan tâm sau đó nhận những tiêu đề hay bản tóm tắt từ những nguồn tin này. Cuối cùng việc chọn lọc sẽ được những tác nhân thông minh thực hiện dưới chỉ thị của người dùng nên đòi hỏi rất ít sự can thiệp của người dùng. Tìm kiếm được cá nhân hóa thực sự tạo điều kiện dễ dàng hơn cho SEO.
Mỗi cá nhân sẽ nhận được một tập hợp kết quả tìm kiếm, được tạo ra dựa trên những gì người đó quan tâm. Kỹ thuật viên máy tính tìm kiếm từ “apple” sẽ thấy máy tính còn người trồng hoa quả tìm kiếm với cùng một từ khóa đó sẽ thấy rất nhiều hoa quả; tìm kiếm chọn lọc “âm nhạc những năm 60” sẽ tìm thấy kết quả là ban nhạc Beatles. Vì vậy sẽ không có kết quả chung xếp thứ nhất trên công cụ tìm kiếm này. Việc xếp hạng sẽ tùy thuộc vào từng cá nhân.
Một số người cho rằng những trang web có khả năng tìm kiếm cá nhân hóa tốt nhất là những trang có hiểu biết trước về người dùng của họ nhiều nhất. Những trang web này có thể lại là những trang mạng xã hội như Facebook (www.facebook.com) và MySpace (www.myspace.com) hoặc những trang kế thừa chúng. Mục tiêu cuối cùng của việc cá nhân hóa là đem lại lợi ích cho người sử dụng bằng cách chuyển đến chính xác thứ mà riêng một người sử dụng muốn mà không cần người đó phải nói rõ nhu cầu của mình, người sử dụng rõ ràng quan tâm đến sự riêng tư nhiều nhất.
Xu hướng phản ảnh những nhu cầu tiềm năng và đang có dấu hiệu trở thành trào lưu mới. Với 03 xu hướng trên sẽ có tác động rất lớn tới Việt nam, một quốc gia đông dân với khả năng nắm bắt công nghệ, internet hàng đầu thế giới. Nếu nắm bắt thành công, nền quảng cáo Việt nam sẽ tạo ra một bước ngoặt mới gây dựng một làn sóng tiếp thị số hiện đại, hiệu quả và ít tốn kém.

Quảng cáo trực tuyến – cơ hội đón đầu và kỳ vọng

Dù chưa đem lại nguồn thu lớn cho các nhà kinh doanh nhưng quảng cáo trực tuyến đang là xu hướng phát triển được nhiều doanh nghiệp kỳ vọng bởi cộng đồng truy cập Internet đang tăng nhanh và rất năng động trong việc truyền bá thông tin.
Theo tìm hiểu của người viết, giá đặt các thanh quảng cáo (banner) trên các báo mạng trong vòng 1 tháng tương ứng với giá 1 trang quảng cáo một kỳ trên báo giấy ở các tờ báo hàng đầu trong nước, tức khoảng 30-50 triệu đồng. Khách hàng quan trọng của các trang web hiện là các công ty lớn thuộc lĩnh vực như sản xuất ôtô, địa ốc, ngân hàng, các sản phẩm viễn thông và CNTT… Tuy nhiên, mật độ quảng cáo dưới hình thức này vẫn còn khá khiêm tốn.
Tích cực đón đầu
Về lý thuyết, thị trường quảng cáo trực tuyến tăng trưởng tỷ lệ thuận với tốc độ phát triển Internet. Thế nhưng, trên thực tế ở Việt Nam loại hình dịch vụ này phát triển khá chậm và manh mún, dù lượng người truy cập Internet đã tăng nhanh trong vài năm gần nay. Hình thức quảng cáo trên mạng được xem là dễ dàng thu hút người đọc đến với các trang web để tìm hiểu sâu hơn về sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp… Nhưng trong thực tế, đa số doanh nghiệp vẫn chưa mặn mà với loại hình quảng cáo này.
Có thể dễ dàng nhận thấy điều đó khi mà doanh thu quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam năm 2005 chỉ khoảng 60 tỷ đồng, tương đương 0,5% tổng giá trị thị trường quảng cáo trong nước và chủ yếu thuộc về các tờ báo mạng hàng đầu như VnExpress, VietNamNet, Thanh Niên Online, Tuổi Trẻ Online… còn các trang quảng cáo trực tuyến chuyên nghiệp chưa tạo được những chuyển biến hay thay đổi đáng kể trên thị trường…
Cũng chính vì sức hút của thông tin mà xuất hiện xu hướng các trang quảng cáo trực tuyến dần dần biến thành các trang web thông tin khá phong phú và hữu ích, nhiều trang web đã phát triển thành báo mạng hoặc xuất bản báo giấy để tạo sức cộng hưởng, thu hút nguồn quảng cáo. Tuy nhiên, một vấn đề đang được đặt ra là bản quyền. Các nhà kinh doanh sẽ phải đối mặt với vấn nạn bản quyền nếu không khai thác nguồn thông tin hợp pháp.
Nắm bắt xu hướng phát triển của quảng cáo trực tuyến, nhiều công ty thương mại điện tử đã mở rộng sang lĩnh vực này và xem đó là một chiến lược dài hạn. Bên cạnh nhiều sàn giao dịch thương mại điện tử đã được biết đến lâu nay, có hàng loạt trang web quảng cáo trực tuyến ra đời. Họ tung ra các dịch vụ với giá rẻ để thu hút cộng đồng truy cập, mức giá khá thấp như duy trì logo hàng năm trên dưới 300.000 đồng, 10-20 triệu đồng để duy trì các banner hoặc cho phép mở những gian hàng miễn phí thời gian đầu.
Tuy nhiên dù có dự báo lạc quan về quảng cáo trực tuyến nhưng do vẫn còn hạn chế trong việc ứng dụng CNTT nên doanh nghiệp ở Việt Nam vẫn chưa quen với hình thức quảng cáo mới này. Và đó là khó khăn lớn nhất trong việc tiếp cận khách hàng và cũng như nguyên nhân khiến quảng cáo trực tuyến Việt Nam chưa được nâng lên tầm tương xứng. Việc tạo thương hiệu trên mạng đang là xu hướng. Tuy nhiên, xu hướng này vẫn chưa phổ biến vì môi trường thương mại điện tử ở Việt Nam còn khá hạn hẹp. “Việc kinh doanh hiện nay chủ yếu là “tập” cho doanh nghiệp quen dần với việc quảng cáo trực tuyến với kỳ vọng mở rộng thị trường”
 Theo ông Phan Minh Tâm Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần quảng cáo trực tuyến, đơn vị quản lý trang web 24h.com.vn, thị trường quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam chưa phát triển đúng nghĩa và còn rất sơ khai, các trang web sống được nhờ quảng cáo còn rất ít. “Các doanh nghiệp chưa quan tâm đúng mức đến thị trường này, trong khi công nghệ quảng cáo trực tuyến của Việt Nam còn lạc hậu, nhận thức và lòng tin khách hàng đối với hình thức quảng cáo này ở mức thấp. Vì thế khó khăn thuyết phục khách hàng về tính hiệu quả của nó”, ông Tâm nói: “Để thay đổi điều này cần có thời gian và chi phí lớn cùng với nỗ lực của những nhà kinh doanh trong việc nâng cao nhận thức của khách hàng”.
Kỳ vọng còn xa
Dù còn rất sơ khai nhưng quảng cáo trực tuyến đã chứng tỏ được rất nhiều ưu điểm như chi phí thấp, tính tương tác cao và cộng đồng sử dụng năng động trong việc truyền bá thông tin. Chính vì vậy, quảng cáo trực tuyến đang trở thành một đối thủ của các loại hình quảng cáo khác. Tính đến cuối tháng 12/2008. Việt Nam đã có 20 triệu người sử dụng Internet, tương đương với 23%% dân  số tiếp cận với mạng thông tin. Con số này dự báo sẽ còn tăng cao và do đó sẽ trở thành tiêu điểm của những nhà kinh doanh, cung cấp dịch vụ nhắm đến từ loại hình này.
Môi trường Internet sẽ tăng thêm giá trị khi có nhiều người cùng tham gia và lan tỏa nhanh chóng hơn. Ví dụ, quảng cáo trực tuyến ở Mỹ năm 2005 bằng khoảng 4% so với quảng cáo truyền thống. Điều này có nghĩa là nó tác động đến thông tin truyền thống, người tiêu dùng sẽ chuyển từ cách thu nhập thông tin và tương tác với cộng đồng, đồng thời cũng chia sẻ các nguồn dữ liệu trên mạng sang phương thức chủ động tìm kiếm thông tin trên mạng và tải về máy tính của họ. Đây sẽ là cơ sở kết nối các thị trường mà nếu không quan tâm, các doanh nghiệp sẽ bỏ qua nguồn quảng cáo hữu ích này.
Tuy nhiên, để tạo được sự chủ động trong tìm kiếm thông tin của người sử dụng, các nhà kinh doanh quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm. Các phương thức truyền tải hiện còn quá lạc hậu, tính tuyên truyền chưa cao để các doanh nghiệp sẵn sàng đưa quảng cáo trực tuyến vào chiến lược tiếp thị, mặc dù kênh truyền thông mới được xem là có ưu điểm vượt trội. Đặc biệt là chưa có nhiều sàn quảng cáo trực tuyến chuyên nghiệp đủ tạo được sức hút đối với cộng đồng truy cập ngoài một vài tờ báo điện tử.
Nhìn chung các loại hình quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam hiện còn đơn điệu, chủ yếu bằng các banner, logo, pop-up (màn hình riêng), video. Trong khi đó, nhiều công nghệ quảng cáo có hiệu quả chưa được phổ biến như điều tra trực tuyến, các tập tin âm thanh, hình ảnh truyền phát, quảng cáo bằng các nội dung đa phương tiện, lồng ghép nội dung; các thống kê để đo lường hiệu quả quảng cáo cũng mới chỉ dừng lại ở chỉ số truy cập… Những dịch vụ quảng cáo trực tuyến của Việt Nam, vì vậy còn có một khoảng cách rất xa so với thế giới khi mà nguồn thu chính của hình thức này ở các quốc gia phát triển chủ yếu từ các dịch vụ tìm kiếm mang lại.
Ngành công nghiệp Internet trong tương lai ngày càng thách thức các nhà cung cấp dịch vụ xuất bản truyền thống và tác động lên ý thức của các nhà kinh doanh. “Đối với Việt Nam, thách thức ở thời điểm hiện tại còn nhỏ, nhưng vấn đề quan trọng là các doanh nghiệp cần thay đổi quan niệm kinh doanh để sẵn sàng theo kịp các xu hướng phát triển của nền công nghệ mới”.
Nguồn : Dichvuseo

Thời nào của home shopping?

Một chương trình phát sóng home shopping tại Việt Nam.
Với nhiều ưu điểm song cũng không ít rắc rối, chưa rõ đây là thời của mô hình mua sắm qua tivi hay chính là giai đoạn sàng lọc khắc nghiệt.
Nếu thường theo dõi các bộ phim truyền hình Hàn Quốc, người ta có thể dễ dàng thấy những cảnh khách hàng xem tivi, gọi điện đặt hàng và nhận hàng tại nhà. Điều này cho thấy rằng việc mua sắm qua tivi (home shopping) đang rất thịnh hành tại Hàn Quốc.
Mô hình Hàn Quốc
Home shopping phổ biến tại Hàn Quốc với lịch sử phát triển khoảng 20 năm. Có nhiều doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức này, trong đó nổi bật là bộ 3 GS home shopping (thuộc Tập đoàn LG), CJ O Shopping (công ty mẹ của SCJ life on Vietnam) và Lotte home shopping.
Tại Việt Nam, mô hình này đã có khoảng 4 năm hình thành và phát triển. Có nhiều kênh truyền hình đang phát những chương trình home shopping như Viet Home Shopping phát trên HTVC+ và SCTV5, Home Shopping Network phát trên kênh SCTV, Lotte Đất Việt phát trên VCTV14. Truyền hình cáp Việt Nam còn có hẳn kênh mua bán hàng hóa có tên TV shopping trên VCTV11.
Mô hình kinh doanh này tại Việt Nam giống với mô hình tại Hàn Quốc. Các công ty xây dựng siêu thị trên tivi với đủ các loại mặt hàng. Họ mua sóng (hoặc hợp tác) để lên sóng của một kênh trên truyền hình và phát chương trình do chính mình sản xuất. Đa phần là những chương trình giới thiệu về công dụng, tính năng của sản phẩm.
Khi muốn mua hàng, khách sẽ gọi điện thoại đến công ty để được hướng dẫn, tư vấn và đặt hàng. Sau đó, khách sẽ được giao hàng tận nhà. Khách hàng mục tiêu mà những công ty kinh doanh mô hình này nhắm đến là những người không có nhiều thời gian đi mua sắm.
Một nhà đầu tư (không muốn nêu tên) cho biết chi phí để sản xuất chương trình và chi phí phát sóng lớn hơn so với việc xây dựng và vận hành một siêu thị truyền thống. Tuy nhiên, đây được dự báo sẽ là trào lưu mua sắm mới khi người dân ngày càng bận rộn hơn. Các công ty hướng đến việc thu lợi nhuận nhỏ trên từng mặt hàng. Khi đã đạt được một lượng khách hàng đủ lớn, thương hiệu đủ mạnh, họ sẽ có được nguồn hàng giá tốt. Không những thế, các nhà sản xuất sẽ chủ động tìm đến những kênh này để quảng bá cho sản phẩm của mình. Từ đó, lợi nhuận sẽ tăng lên.
Đến thời hay đến lúc sàng lọc?
Khá giống với mô hình kinh doanh theo nhóm, mô hình home shopping đang nở rộ tại Việt Nam. Ngay cả những siêu thị truyền thống như Co.op Mart cũng gia nhập thị trường này. Và nhiều khả năng, home shopping cũng sẽ sớm đi vào giai đoạn sàng lọc như mô hình mua theo nhóm, để cuối cùng chỉ còn lại một vài gương mặt tương tự như tại Hàn Quốc.
Tính đến nay đã có 2 trong số 3 công ty kinh doanh home shopping hàng đầu tại Hàn Quốc vào Việt Nam là SCJ và Lotte, liên doanh với Saigontourist và Đất Việt. Ông Shin Yong Ho, Tổng Giám đốc Lotte Đất Việt, cho biết tính riêng tại Hàn Quốc, mảng home shopping trong năm 2010 đã chiếm đến 60% doanh thu của Tập đoàn, đạt 1,5 tỉ USD. “Việt Nam là nơi có điều kiện phát triển tương tự như Hàn Quốc hay Nhật nhưng thị trường home shopping còn trống. Đó là cơ hội”, ông nói.
Thực tế tại Việt Nam cũng đã có một số công ty công bố kết quả ấn tượng. Theo Công ty SCJ TV Shopping, từ tháng 7.2011 đến nay, tốc độ tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp này là khoảng 20%/tháng. Ông Trần Hồng Việt, Tổng Giám đốc Saigontourist, đối tác của SCJ, cho biết Việt Nam hiện có tới trên 65% ở độ tuổi dưới 35, rất nhạy bén với việc tiếp cận với những phong cách hiện đại. Do đó ông kỳ vọng mô hình này sẽ phát triển mạnh hơn trong thời gian tới.
Tuy nhiên, gần đây đã nảy sinh khá nhiều rắc rối đối với mô hình này tại Việt Nam. Công ty Việt Home Shopping đã bị xử lý vì cung cấp hàng kém chất lượng cho khách hàng. Nhiều công ty bán hàng với giá cao gấp nhiều lần so với giá bán thực tế. Ngoài ra, nhiều đoạn tự quảng cáo đã nói quá về sản phẩm để dụ dỗ khách hàng. Đó là lý do khiến khách hàng mất niềm tin vào kênh bán hàng mới này.
Bà Đinh Thị Mỹ Loan, Tổng Thư ký Hiệp hội Bán lẻ Việt Nam cho biết: “Một số doanh nghiệp đã bán những mặt hàng kém chất lượng. Đây là điều tối kỵ bởi một khi lòng tin bị đánh mất, doanh nghiệp sẽ khó mà lấy lại được uy tín”.
Một nghiên cứu của Công ty Nghiên cứu Thị trường FTA về việc mua sắm quần áo và các sản phẩm làm đẹp của nhóm người tiêu dùng trong độ tuổi từ 20-29 cho thấy, chỉ có 2% số người chọn home shopping, trong khi đó 40% số người chọn cửa hàng tiện lợi, 15% số người sẽ tiếp tục mua hàng ở chợ và 11% ở các trung tâm thương mại. Các chuyên gia về thương mại điện tử cho rằng, home shopping có triển vọng phát triển tốt tại Việt Nam với tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 30%/năm. Tuy nhiên, để bước chân vào kênh bán lẻ hấp dẫn này, doanh nghiệp cần biết điểm mấu chốt là lấy được lòng tin của khách hàng nếu không muốn mình bị loại trong cuộc sàng lọc được dự báo sẽ sớm diễn ra.
Nguồn : nhipcaudautu

Xu hướng tất yếu của Mobile marketing Việt Nam

Mobile marketing hiện không còn là “khái niệm mới” của nền kinh tế thế giới. Tại Việt Nam, thị trường mobile marketing mới thực sự được biết đến từ vài năm trở lại đây song hứa hẹn sự phát triển mạnh mẽ bởi những lợi ích mà dịch vụ này mang lại.
 Xu hướng tất yếu của Mobile marketing Việt Nam
Xu hướng tất yếu của Mobile marketing Việt Nam
Ra đời tại Mỹ năm 2004, đến năm 2006 Mobile marketing mới được các doanh nghiệp Việt Nam biết đến dưới hình thức triển khai căn bản nhất là gửi thông tin cho khách hàng.
Từ những chiến dịch sơ khai mà các ngân hàng áp dụng như thông báo thông tin về lãi suất tiền gửi, dịch vụ cho vay trả góp… hay việc gửi tin nhắn quảng cáo kèm theo các tin nhắn miễn phí được gửi từ website của các nhà cung cấp mạng thông tin di động như Viettel, Mobifone, Vinaphone… đến nay mobile marketing đã được ứng dụng vào hầu hết tất cả các lĩnh vực của cuộc sống.
Kể từ khi bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam, đã có nhiều chiến dịch Mobile Marketing được thực hiện khá thành công, điển hình như chương trình bình chọn ảnh đẹp chụp trên điện thoại Nokia mang tên “Nokia – khoảnh khắc cuộc sống” với gần 30.000 người tham gia bình chọn qua di động hay chương trình nhắn tin để được tặng áo thun Levi’s.
Các chiến dịch marketing này đã mang lại hiệu quả “ngoài mong đợi” do kết hợp được hiệu ứng của truyền thông trên di động với các phương tiện truyền thông khác như báo chí, truyền hình, tờ rơi.
Các ứng dụng của mobile marketing không chỉ đơn thuần là việc gửi tin nhắn quảng cáo, trên thực tế kênh truyền thông này được ứng dụng trong rất nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ mới, chương trình khuyến mãi… theo yêu cầu của khách hàng; tổ chức chương trình bình chọn; tổ chức chương trình khuyến mãi; gửi tin nhắn thông báo; nhắn tin để tham gia chương trình trúng thưởng; bưu điện ảo hay tải những ứng dụng giải trí trên di động qua wap.
Ưu điểm nổi bật và cũng là đặc thù của mobile marketing là tính tương tác 2 chiều giữa khách hàng và doanh nghiệp. Do vậy, doanh nghiệp có thể sử dụng Mobile Marketing như một phương tiện hữu hiệu cho công tác tiếp thị, chăm sóc khách hàng, làm nghiên cứu thị trường, thậm chí là đánh giá hiệu quả của các chiến dịch marketing. Và bằng chứng là ngày càng nhiều doanh nghiệp quan tâm tới phương thức truyền thông này.
Là 1 doanh nghiệp lựa chọn mobile marketing trực tuyến, bà Nguyễn Vân Anh, Trưởng phòng chăm sóc khách hàng Siêu thị máy tính Đăng Khoa cho biết, khác với những hình thức marketing truyền thống, ưu điểm mà mobile marketing mang lại là thông tin được chuyển tới khách hàng nhanh chóng, thuận tiện mà lại tiết kiệm các khoản chi phí marketing khác như thiết kế, in ấn, nguyên liệu, nguồn nhân lực…
“Khi quyết định sử dụng hình thức mobile marketing trong chăm sóc khách hàng cũng như trong các hoạt động tiếp thị quảng cáo chúng tôi đã đã xin số điện thoại kèm thông tin về tên, tuổi của khách hàng trong mỗi lần thanh toán và được sự đồng ý của khách hàng. Do vậy chúng tôi sử dụng dữ liệu này để gửi thông tin qua di động. Tất cả khách hàng đều có thể nhận thông tin chỉ trong 5 phút” – bà Anh cho biết thêm.
“Mobile marketing là xu hướng tất yếu trong tương lai giúp các doanh nghiệp Việt Nam vượt ra khỏi lối mòn bằng các chiến lược kinh doanh hiệu quả. Giúp doanh nghiệp hướng tiếp cận bằng các giải pháp mobile marketing trên cơ sở kết hợp giữa E-commerce (thương mại điện tử) và M-commerce (thương mại di động)”.
Nguồn : vnmarkete

Những gì được chia sẻ nhiều nhất trên Internet năm 2011

Năm 2011, người dùng internet chia sẻ những gì nhiều nhất và chia sẻ qua công cụ nào? Thankiu giới thiệu báo cáo thống kê về chia sẻ trên internet được thực hiện bởi AddThis – Một công cụ chia sẻ miễn phí trên nền web.
Những điểm chính và đáng lưu ý trong báo cáo:
Công cụ nào được dùng nhiều nhất để chia sẻ thông tin trên mạng?
  • Facebook chiếm 52,1% thị phần chia sẻ trên web.
  • Twitter chiếm 13,5%, tuy  nhiên thị phần chia sẻ qua mạng xã hội này đã tăng tới 576,9% năm 2011 so với năm 2010.
  • Mức độ chia sẻ trên Google +1 cũng tăng tới 373%, tuy nhiên con số này hiện đã chững lại. Đây cũng là một trong nhiều biểu hiện của quá trình phát triển chậm lại của Google+ so với thời điểm mới lauching. (Tham khảo cách tạo Fan page trên Google +)
  • Digg và Myspace tiếp tục sụt giảm thị phần chia sẻ trực tuyến.
Trình duyệt nào được dùng nhiều nhất để chia sẻ?
Chrome tiếp tục khẳng định sự phát triển bền vững khi vượt qua Firefox vào tháng 11/2011 để trở thành trình duyệt được sử dụng nhiều thứ 2 sau Internet Exploer để chia sẻ thông tin trên mạng. Nhìn biểu đồ có thể thấy chỉ sau vài tháng tới, Chrome sẽ vượt qua IE để trở thành trình duyệt được sử dụng nhiều nhất để chia sẻ, dễ hiểu bởi Chrome là một nền tảng mở với nhiều ứng dụng dễ dàng cài đặt hơn nhiều so với IE.
2011 là năm phát triển mạnh mẽ của máy tính bảng, cũng là năm số lượng smart phone được bán ra tăng đột biến và kỷ lục so với các năm trước. Đó là lý do để tỷ lệ chia sẻ thông tin qua điện thoại đã tăng tới 6 lần trong năm nay so với 2010.
73% của 10 sự kiện được chia sẻ nhiều nhất năm 2010 có liên quan tới các thảm hoạ, và sự “mất mát”, có thể kể đến là thảm hoạ động đất – sóng thần tại Nhật Bản; cái chết của Osama Bin Laden; động đất – bão tại Mỹ và cái chết của Steve Jobs (download hồi ký về Steve Jobs).
Chia sẻ là nền tảng và giá trị cơ bản của internet, thông tin hấp dẫn trên website được chia sẻ trên các mạng xã hội không những mang traffic về cho website của bạn  mà còn có tác dụng tốt cho thứ hạng website đó trên các công cụ tìm kiếm. Cài đặt Plugin chia sẻ cũng là 1 trong số 5 bí quyết SEO các webmaster phải biết.
Nguồn :Thankiu.com

10 lý do khiến website bán lẻ mất khách

Thông tin đầy đủ về sản phẩm, giá cả, phương thức vận chuyển và những “thủ thuật” giữ chân khách truy cập là những điều rất quan trọng để các website bán lẻ có nhiều khách người mua hàng.
Sự minh bạch và rõ ràng trong giá cả là chìa khóa của thế giới bán lẻ trực tuyến. Nếu không làm tốt điều này, các website bán lẻ hoạt động kém hiệu quả dễ đối mặt với “bờ vực chết thảm”.
Theo hãng phân tích dữ liệu QuBit, các nhà bán lẻ Anh đang mất đi hơn 8 tỷ bảng Anh (12,6 triệu USD) mỗi năm vì website hoạt động kém hiệu quả. Sử dụng công nghệ Exit Feedback, QuBit đã thu thập hơn 18.000 bình luận về các website bán lẻ của Anh và phân tích số liệu để phát hiện ra những vấn đề cơ bản mà các website này gặp phải. Và sau đây là 10 lý do khiến khách truy cập vào website bán lẻ của các công ty không quyết định mua hàng.
Giá cả:Giá cả là vấn đề hàng đầu mà người tiêu dùng quan tâm khi đưa ra các quyết định mua sắm trực tuyến. Sự minh bạch và rõ ràng trong giá cả là chìa khóa của thế giới bán lẻ trực tuyến, bởi việc so sánh giá cả các món hàng, dịch vụ trên Internet dễ dàng hơn rất nhiều so với thế giới thực. QuBit khuyến cáo các website bán lẻ nên đề cập đến các mức giá trong các ngày trước, hoặc tập trung vào “ngày khuyến mãi nào đó trong tuần” nhằm thỏa mãn những khách hàng nhạy cảm về giá.
Miêu tả hàng hóa :hơn 12% phản hồi của người tiêu dùng về các website bán lẻ liên quan đến việc thiếu những thông tin miêu tả rõ ràng, đầy đủ về sản phẩm. Phần miêu tả phải thật cụ thể, để người xem cảm giác như đang được người bán hàng tư vấn trực tiếp. Điều này đặc biệt quan trọng với các website bán lẻ hàng thời trang, bởi “phần lớn phản hồi về các website bán lẻ hàng thời trang đều thiếu thông tin về kích cỡ quần áo, và đó được xem là lý do chính khiến khách hàng rời khỏi trang mà không ra lệnh mua”. Ngoài ra, những thông tin như chất liệu, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa cũng là điều mà các website bán lẻ nên có.
Thông tin hàng còn trong kho : việc biết rõ hàng còn hay đã hết rất quan trọng để khách truy cập vào website ra quyết định mua hàng. Nếu một sản phẩm đã hết, thông tin kịp thời về tình trạng sản phẩm rất quan trọng. Mặt khác, khách hàng cũng cần có lựa chọn nhận được thông báo khi hàng về, hoặc trang này cần đưa ra những mặt hàng liên quan mà người mua có thể sử dụng.
Các chức năng “phụ” của website : người dùng rất giận dữ khi họ truy cập một trang web với nhiều kỳ vọng và cuối cùng họ lại thất vọng. Những chức năng mà các website đã bỏ lỡ bị người dùng phê bình là không có danh sách những mặt hàng người dùng đã đặt mua, không có những gợi ý mang tính cá nhân, không có phần tìm, lọc sản phẩm….
Thông tin chuyển hàng : Giá cả và thời gian vận chuyển hàng hóa phải được niêm yết rõ ràng. Thiếu thông tin này khiến trang web trở nên thiếu tin cậy. Đặc biệt, thông tin chuyển hàng đi quốc tế và giá chuyển hàng theo từng loại tiền tệ là hai tính năng chính mà các website bán lẻ cần lưu ý.
Hình ảnh : mọi người thích nhìn thấy những gì họ đang mua trước khi ra quyết định mua. Những bức ảnh chất lượng cao từ nhiều góc chụp rất quan trọng để biến người xem hàng thành người mua hàng.
Chiết khấu : Những người được hỏi cho biết không thể tìm thấy nơi để nhập mã chiết khấu là một vấn đề cản trở lớn khi mua hàng trực tuyến. Người dùng rất bối rối tự hỏi liệu những chương trình khuyến mãi, chiết khấu offline có áp dụng với mua hàng online, và nếu có thì được áp dụng như thế nào, có theo khung địa lý không.
Điều hướng: Người tiêu dùng đã quen truy cập những website thương mại lớn như Amazon – luôn có tính năng điều hướng rõ ràng – và họ cũng hy vọng sẽ được hướng dẫn như vậy khi vào các website bán lẻ khác. Những đường liên kết (link) bị hỏng trong khi mua hàng, thiếu các trang đề mục trong thanh điều hướng hay thiếu nút trở về (back) có thể khiến họ rời bỏ trang web.
Video: Video về sản phẩm có thể tăng thêm giá trị cho một trang sản phẩm, và việc thiếu video cũng gây ấn tượng không tốt cho các website bán kẻ. Tốt nhất, nên mang lại trải nghiệm liền mạch cho người xem bằng những video và ảnh chất lượng cao.
Tốc độ tải trang :tốc độ tải chậm là một trở ngại lớn với các website bán lẻ, vì người dùng đơn giản rất ghét phải chờ đợi một website hiện ra. Các nhà bán lẻ nên kiểm tra thời gian tải của website công ty so với các website đối thủ và có những cải thiện kịp thời.
Nguồn: (theo ICTnews/ Mashable)

Quảng cáo dựa trên môi trường

Google – gã khổng lồ trong lĩnh vực tìm kiếm trực tuyến – vừa được cấp bằng sáng chế về một hệ thống hiển thị quảng cáo dựa trên các điều kiện môi trường…
Nói cách khác, Google đã đăng ký bản quyền công nghệ dùng các bộ cảm biến của thiết bị (điện thoại di động, biển quảng cáo số hoặc máy bán hàng tự động) để thu thập các yếu tố thời tiết, từ đó đưa những nội dung quảng cáo liên quan đến người sử dụng. Những yếu tố có thể được thu thập và phân tích gồm có nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, thành phần không khí…
Phân tích thời tiết, tiếng ồn
Bằng sáng chế nêu rõ: “Các yếu tố thời tiết có thể được dùng độc lập hoặc kết hợp với việc đối chiếu các từ khóa liên quan đến quảng cáo và từ khóa dùng trong việc truy vấn tìm kiếm của người sử dụng khi xác định nội dung quảng cáo dành cho người dùng đầu cuối”.
Nhờ vậy, theo Google, những quảng cáo về máy điều hòa nhiệt độ có thể được gửi đến người sử dụng tại những địa phương đang có thời tiết nóng, ngược lại quảng cáo về áo khoác mùa đông có thể gửi đến người sử dụng tại những vùng đang giá rét. Những ai đang tắm nắng có thể nhận quảng cáo về kem tắm nắng, trong lúc người nào đó mắc kẹt trong một toa tàu ồn ào có thể nhận quảng cáo về tai nghe hủy tiếng ồn.
Ngoài các yếu tố thời tiết, Google còn muốn phân tích tiếng ồn của môi trường xung quanh người sử dụng điện thoại để đưa ra những quảng cáo phù hợp. Chẳng hạn như Google có thể nhận ra tiếng mưa khi người sử dụng đang nghe điện thoại trong lúc trời mưa để gửi đến cho họ quảng cáo về các loại dù. Hoặc khi bạn đang ở một sự kiện thể thao và gọi điện thoại để hỏi thông tin về một nhà hàng gần đó, Google có thể xác định được sự kiện thể thao nói trên nhờ vào tiếng ồn nghe được qua microphone của điện thoại; sau đó, những quảng cáo liên quan đến môn thể thao sẽ được gửi đến điện thoại bạn.
Một loại thiết bị do thám?
Bằng sáng chế này có thể mở đường cho một dòng thiết bị được trang bị bộ cảm biến cho phép lưu lại dữ liệu liên quan đến môi trường xung quanh. Dù vậy, các nhà hoạt động vì quyền riêng tư lại không mấy ấn tượng trước viễn cảnh này. Ông Gus Hosein, Giám đốc điều hành Tổ chức Privacy International, lo ngại: “Google dường như không hài lòng với việc thu thập lượng thông tin khổng lồ từ những hoạt động trực tuyến nên đang tìm cách khai thác cả môi trường ngoại tuyến. Những bằng sáng chế như thế có thể không bao giờ thành hiện thực nhưng chúng khiến chúng ta không khỏi tự hỏi: có bao nhiêu lĩnh vực trong cuộc sống mà các nhà quảng cáo sẽ khai thác và điều này sẽ kết thúc ở đâu? Đây là nỗ lực biến những thiết bị thường dùng thành những thiết bị do thám cá nhân để giúp doanh nghiệp bán sản phẩm cho người tiêu dùng”.
Google đã lên tiếng biện hộ cho bằng sáng chế. Người phát ngôn của công ty này cho biết: “Chúng tôi đăng ký bằng sáng chế về những ý tưởng của các nhân viên. Một số ý tưởng này biến thành sản phẩm hoặc dịch vụ thật sau này, trong lúc một số khác thì không. Không nhất thiết phải suy luận về những sản phẩm tiềm năng từ những bằng sáng chế mà chúng tôi đăng ký”. Ngoài ra, Google cam kết sẽ tôn trọng sự riêng tư của người sử dụng bằng cách cho phép họ tắt tính năng giám sát môi trường một khi nó được ứng dụng trong thực tế. Google cũng hứa sẽ ban hành chính sách về loại thông tin được thu thập, cách thức thu thập và sử dụng nó.
Các chuyên gia cho biết động thái nói trên của Google cho thấy bằng sáng chế đang là chiến trường mới của các công ty trong lĩnh vực công nghệ đầy cạnh tranh. Bên cạnh việc tìm kiếm ngày càng nhiều bằng sáng chế liên quan đến thiết bị, nhiều doanh nghiệp công nghệ còn đăng ký bản quyền những ý tưởng đi trước thời đại. Andrew Alton, một luật sư về bằng sáng chế tại hãng luật Urquhart-Dykes and Lord, cho biết bằng sáng chế nói trên là sự mở rộng hợp lý của lĩnh vực quảng cáo theo ngữ cảnh của Google. Ông nhận định: “Đây là những gì Google muốn làm – kết hợp lịch sử lướt web của người sử dụng với kết quả tìm kiếm dựa trên địa điểm”.
Giới chuyên gia cho rằng nếu thành công, Google có thể tạo ra bước đột phá mới cho lĩnh vực quảng cáo, hứa hẹn mang lại nhiều lợi nhuận cho công ty. Dù vậy, bản thân Google cũng từng có không ít dự án công nghệ mới lạ được kỳ vọng song cuối cùng đã hủy bỏ chúng vì không phù hợp với thực tế.
Theo TBKTSG

Tại sao nội dung vẫn là vua trong thế giới trực tuyến?

ng có khoảng 145 gigabites (GB) dữ liệu. Chỉ riêng trong năm ngoái, các công ty thương mại trên toàn thế giới đã tạo ra 48 tỉ GB dữ liệu. Tuy nhiên, một người bình thường chỉ có thể đọc nhiều nhất 2 GB văn bản trong cả cuộc đời của mình.
Theo một báo cáo từ IDC (International Data Corp) trong khoảng thời gian từ năm 1950 đến năm 1990, dữ liệu được tạo ra từ tất cả các máy tính trên thế giới cứ 5 năm lại tăng gấp đôi. Trong năm 2000, khi điện thoại di động bắt đầu vào cuộc, dữ liệu cứ 2 năm lại tăng gấp đôi cho đến năm 2012. “
Vì vậy, nhận được nội dung có liên quan một cách nhanh chóng và đúng theo nhu cầu chính là một vấn đề lớn. Các công ty như Yahoo!, chú trọng vào cả hai yếu tố tìm kiếm và nội dung, đang nâng tầm mặt bằng chung trên các mặt trận công nghệ cao. Một nghiên cứu của tổ chức Pew năm 2008 đã cho thấy 83% người khi có nhu cầu tiếp cận các tin tức trực tuyến, đã sử dụng công cụ tìm kiếm để tìm.
Do đó, không đáng ngạc nhiên khi hai ứng dụng hàng đầu trên nền tảng trực tuyến mà cả người tiêu dùng và các doanh nghiệp đều ủng hộ là Tìm kiếm và Nội dung – so với ứng dụng thoại và nhắn tin trên nền tảng di động. “Tìm kiếm và nội dung phải đi cùng với nhau bởi vì bạn cần công cụ tìm kiếm để tìm đúng nội dung mình đang cần”, một nghiên cứu của AMI Partners khẳng định. “Nội dung là vua trong thế giới trực tuyến bởi vì công cụ tìm kiếm về bản chất là vô nghĩa trừ khi nó được sử dụng để tìm các nội dung liên quan”.
Có một thời gian, mọi người tìm đến Yahoo! để sử dụng 3 dịch vụ chính: Mail, Messenger và News (Hòm thư điện tử, Ứng dụng chat trực tuyến và Tin tức). Nhưng ngày nay Yahoo! đang dần trở thành một cổng trung tâm dữ liệu và kết nối dành cho cả người tiêu dùng và các chuyên gia. Các đối tượng này có thể là người dùng trẻ đang săn lùng người nổi tiếng hoặc muốn liên lạc trò chuyện với gia đình và bạn bè; hay có thể là những người dùng cao cấp, những người thông thạo các trang Yahoo! Finance và Yahoo! Sports.
Hiện nay quảng cáo trực tuyến chỉ chiếm ít hơn 10% toàn bộ chi phí quảng cáo. Nhiều doanh nghiệp đang mất dần những cơ hội quý giá mà công nghệ hiện đại đang cung cấp để truyền đạt những thông điệp rất tập trung dành riêng cho các mục tiêu chính xác mà họ muốn tiếp cận. Điều này phần lớn là do lo ngại, và trong một thế giới đang thay đổi rất nhanh, rất khó cho tất cả mọi người để nắm bắt được những gì là có thể. Kết quả là, họ có xu hướng ngần ngại thử và thực hiện những ý tưởng mới.
Một mô hình mới đang được hình thành. Về cơ bản, nó được gọi là phương pháp tiếp cận “ba màn hình”, khi mà người tiêu dùng luôn luôn đối diện với ít nhất 1 trong số 3 màn hình: máy tính, điện thoại di động, và vô tuyến truyền hình. Các nội dung cơ bản ngày càng trở nên phổ biến trên cả ba màn hình này, trong đó máy tính phổ biến gấp đôi TV và điện thoại thì phổ biến gấp đôi máy tính.
Nội dung thường được kéo về – và có lúc đan xen vào với phương tiện. Ví dụ, Yahoo! có một quan hệ đối tác lâu dài với Associated Press để cung cấp các nội dung đẳng cấp thế giới của AP. Yahoo! News kéo nội dung từ 200 nguồn tin tức toàn cầu khác nhau. Và Yahoo! Finance cũng có 70 đối tác nội dung và thu thập các dữ liệu tài chính tin cậy từ nhiều nguồn cung cấp dữ liệu.
Mục đích của các doanh nghiệp là xác định các mục tiêu tập trung và đo lường. Để đến gần với mục tiêu tập trung, việc sử dụng các công cụ phần mềm có thể giúp các nhà quảng cáo tiếp cận đúng đối tượng với đúng thông điệp dành riêng cho họ. Và đo lường thì được dùng để giúp các nhà quảng cáo đánh giá tác động thực tế lên kết quả kinh doanh của quảng cáo trực tuyến khi sử dụng các chương trình như Yahoo! “Consumer Direct” (Người tiêu dùng trực tiếp). Đó là quy luật của trò chơi, và các doanh nghiệp ở Châu Á cần phải nhận ra điều này đầu tiên, sau đó cần phải chuẩn bị sẵn sàng tâm thế để chơi và giành chiến thắng.
theo Thông Tin Công Nghệ

1 ngày trên Internet có những gì?

Nói đến Internet là nói đến những con số khổng lồ. 1 ngày người ta gửi 294 tỷ email, tải 250 triệu tấm hình lên Facebook, cập nhật 532 triệu status mới và tải hơn 35 triệu ứng dụng mỗi ngày. Thật khôi hài là doanh số bán iPhone trong 1 ngày còn cao hơn cả tổng số em bé mới sinh ra đời trên trái đất này trong khoảng thời gian tương ứng.


 
Design by Wordpress Theme | Bloggerized by Free Blogger Templates | JCPenney Coupons
Blogger Gadgets